Trẻ nhiễm virus viêm gan B từ mẹ nguy cơ cao tiến triển thành nhiễm mạn tính

Khi bệnh của người mẹ có thể trở thành bệnh của đứa trẻ - Ảnh minh họa: AI

Khánh thành cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức tại Ninh Bình

Bệnh viện Bạch Mai và FPT hợp tác xây dựng mô hình bệnh viện thông minh

Podcast: Mắc viêm gan B có nguy cơ ung thư gan?

Podcast: Viêm gan B diễn biến âm thầm, hệ lụy khôn lường

Đây là thông tin được các bác sĩ Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai cảnh báo sau trường hợp mới đây một thai phụ nhập viện điều trị viêm gan B (HBV). Thai phụ này biết mình nhiễm HBV nhiều năm nhưng không điều trị làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh từ mẹ sang con và cũng làm trẻ tăng nguy cơ tiến triển thành nhiễm mạn tính khi trưởng thành.

Cụ thể, một phụ nữ 32 tuổi, đang mang thai ở tuần thai thứ 34 (ở Hưng Yên) nhập Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai với biểu hiện mệt mỏi, ăn uống kém, vàng da, vàng mắt tăng dần. Người bệnh đã biết mình nhiễm (HBV) nhiều năm nhưng không điều trị do cơ thể gần như không có biểu hiện bất thường.

Kết quả thăm khám xác định người bệnh đang trải qua đợt viêm gan B bùng phát nặng vào những tuần cuối thai kỳ. Tỷ lệ prothrombin chỉ còn 57%, cho thấy chức năng đông máu suy giảm. Các bác sĩ phải theo dõi sát nguy cơ rối loạn đông máu, chảy máu, suy gan cùng những biến chứng có thể ảnh hưởng đến cả mẹ và thai nhi.

Điều đáng nói, chồng người bệnh cũng nhiễm viêm gan B. Trong một thời gian dài, cả hai gần như không có biểu hiện bất thường nên việc theo dõi, quản lý bệnh không được thực hiện đầy đủ.

Người mẹ nhiễm virus, đứa trẻ có thể mang bệnh suốt đời

Bác sĩ Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai thăm khám cho sản phụ bị viêm gan B đang điều trị - Ảnh: BVCC

Bác sĩ Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai thăm khám cho sản phụ bị viêm gan B đang điều trị - Ảnh: BVCC

Theo bác sĩ nội trú Nguyễn Thị Thu Trang, Khoa Viêm gan virus, Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, phụ nữ mang thai nhiễm virus viêm gan B (HBV) cần được quản lý chặt chẽ. Mục tiêu không chỉ là bảo vệ sức khỏe người mẹ mà còn phải chủ động ngăn nguy cơ lây truyền virus sang con.

Nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con tăng rõ rệt khi người mẹ có tải lượng virus cao. Vì vậy, thai phụ có HBsAg dương tính cần được đánh giá HBV-DNA, chức năng gan và mức độ tổn thương gan để xác định chỉ định điều trị cho mẹ cũng như biện pháp dự phòng lây truyền cho trẻ.

Trường hợp người phụ nữ 32 tuổi nói trên cho thấy một vấn đề đáng lưu ý: mang virus nhưng vẫn cảm thấy khỏe không đồng nghĩa với việc bệnh đang “ngủ yên”.

Hoạt động của HBV có thể thay đổi theo thời gian. Đặc biệt trong thai kỳ, người phụ nữ cần được theo dõi sức khỏe và tình trạng nhiễm virus theo chỉ định. Việc biết mình nhiễm HBV nhưng không tái khám định kỳ vì không có triệu chứng có thể khiến người bệnh bỏ lỡ thời điểm phát hiện bệnh tiến triển cũng như cơ hội dự phòng lây truyền cho con.

Đây cũng là điểm các bác sĩ đặc biệt lưu ý trong quản lý viêm gan B: người bệnh có thể không cảm thấy mình đang mắc bệnh, trong khi virus vẫn tồn tại và tiếp tục gây tổn thương gan hoặc có nguy cơ lây truyền cho người khác.

Một lần lây nhiễm có thể để lại hệ lụy cho nhiều thế hệ

Thai 34 tuần, người phụ nữ 32 tuổi nhập viện trong tình trạng vàng da, vàng mắt tăng dần - Ảnh: BVCC

Thai 34 tuần, người phụ nữ 32 tuổi nhập viện trong tình trạng vàng da, vàng mắt tăng dần - Ảnh: BVCC

Mối nguy lớn nhất của lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ nằm ở thời điểm trẻ chào đời. Trẻ có thể hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh rõ ràng, nhưng virus vẫn tồn tại trong cơ thể và trở thành nhiễm HBV mạn tính.

Theo các bác sĩ, độ tuổi nhiễm HBV lần đầu có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chuyển thành nhiễm mạn tính. Ở người trưởng thành có hệ miễn dịch khỏe mạnh, tỷ lệ chuyển từ nhiễm HBV cấp tính sang mạn tính chỉ khoảng 2-5%.

Ngược lại, với trẻ sơ sinh nhiễm HBV từ mẹ, nguy cơ chuyển thành nhiễm mạn tính có thể lên tới 85-90%.

Khoảng cách rất lớn giữa hai tỷ lệ cho thấy tại sao dự phòng lây truyền mẹ - con được xem là một mắt xích quan trọng trong kiểm soát viêm gan B. Trẻ nhiễm virus lúc mới chào đời có thể vẫn phát triển bình thường và không có biểu hiện rõ rệt, nhưng HBV có khả năng tồn tại trong cơ thể nhiều năm. Nhiễm HBV mạn tính làm tăng nguy cơ viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan, tạo ra gánh nặng sức khỏe kéo dài từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành.

Tiến sĩ, bác sĩ Đỗ Văn Thành, Trưởng khoa Viêm gan virus, Phó Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, nhấn mạnh lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là câu chuyện của một thai phụ hay một gia đình.

Nếu không được phát hiện và can thiệp, trẻ nhiễm HBV có thể trở thành người mang virus mạn tính, sau này tiếp tục truyền virus cho bạn đời hoặc thế hệ tiếp theo.

“Vì vậy, nếu không cắt đứt được đường lây truyền từ mẹ sang con, chúng ta không chỉ để lại gánh nặng bệnh tật cho một đứa trẻ mà còn có nguy cơ duy trì đường lây nhiễm trong gia đình và cộng đồng qua nhiều thế hệ”, Tiến sĩ, bác sĩ Đỗ Văn Thành nhấn mạnh.

Cắt đứt đường lây truyền

Điều đáng lo ngại của lây truyền HBV từ mẹ sang con là trẻ có thể được sinh ra mà không có biểu hiện bệnh rõ ràng, trong khi virus vẫn tồn tại trong cơ thể nhiều năm.

Theo WHO và CDC, nguy cơ nhiễm HBV chuyển sang mạn tính phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi tại thời điểm nhiễm virus. Hệ miễn dịch càng non yếu, nguy cơ chuyển thành nhiễm mạn tính càng cao.

Ở người trưởng thành nhiễm HBV lần đầu, tỷ lệ chuyển thành nhiễm mạn tính thấp, khoảng dưới 5%. Phần lớn người trưởng thành có hệ miễn dịch khỏe mạnh có khả năng tự đào thải virus và hồi phục sau nhiễm cấp.

Ngược lại, nếu nhiễm HBV từ giai đoạn sơ sinh và những năm đầu đời, nguy cơ chuyển thành nhiễm mạn tính có thể lên tới khoảng 90%.

Điều này khiến dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con trở thành một mắt xích quan trọng trong phòng ngừa bệnh gan lâu dài. Một trường hợp lây truyền trong giai đoạn sơ sinh có thể khiến trẻ phải sống chung với virus trong nhiều thập kỷ, làm tăng nguy cơ viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan về sau nếu không được quản lý phù hợp.

TS.BS Đỗ Văn Thành, Trưởng khoa Viêm gan virus, cho rằng lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là vấn đề của một thai phụ hay một gia đình. Theo ông, nếu không được phát hiện và can thiệp, trẻ nhiễm HBV có thể trở thành người mang virus mạn tính. Về sau, người này có thể tiếp tục truyền virus cho bạn đời hoặc thế hệ tiếp theo.

"Vì vậy, nếu không cắt đứt được đường lây truyền từ mẹ sang con, chúng ta không chỉ để lại gánh nặng bệnh tật cho một đứa trẻ mà còn có nguy cơ duy trì đường lây nhiễm trong gia đình và cộng đồng qua nhiều thế hệ", TS.BS Đỗ Văn Thành nhấn mạnh.

Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con cần được thực hiện theo một chuỗi biện pháp liên tục, từ phát hiện người mẹ nhiễm virus, đánh giá nguy cơ, điều trị khi có chỉ định đến dự phòng cho trẻ ngay sau sinh.

- Tiêm vaccine cho trẻ sơ sinh: Tất cả trẻ cần được tiêm vaccine viêm gan B càng sớm càng tốt sau khi chào đời, tối ưu trong 24 giờ đầu.

- Phối hợp vaccine và HBIG cho trẻ có mẹ nhiễm HBV: Trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm viêm gan B cần được tiêm vaccine viêm gan B kết hợp huyết thanh kháng viêm gan B (HBIG) ngay sau sinh theo hướng dẫn chuyên môn, nhằm tăng hiệu quả bảo vệ.

- Điều trị kháng virus cho người mẹ khi có chỉ định: Thai phụ có tải lượng virus cao có thể được chỉ định sử dụng thuốc kháng virus trong thai kỳ nhằm giảm nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con.

- Duy trì quy trình dự phòng toàn diện: Sàng lọc HBV cho mẹ, đánh giá tình trạng nhiễm và tổn thương gan, điều trị đúng chỉ định trong thai kỳ và thực hiện dự phòng cho trẻ ngay sau sinh là những mắt xích liên tiếp, không nên bỏ qua.

 
Hiệp Nguyễn
Mời quý vị độc giả đọc tin hàng ngày về chủ đề sức khỏe tại suckhoecong.vn trong chuyên mục Xã hội