

Trong bài viết, tỷ phú Bill Gates cho rằng, biến đổi khí hậu – như các đợt nắng nóng, các cơn bão nhiệt đới... do nhiệt độ toàn cầu tăng cao, đang ảnh hưởng và để lại những hậu quả nghiêm trọng tới con người, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển và người nghèo. Theo Bill Gates, tuy biến đổi khí hậu đang gây tổn hại cho người nghèo nhiều hơn bất kỳ ai khác, nhưng biến đổi khí hậu sẽ không phải là mối đe dọa duy nhất hay lớn nhất đối với cuộc sống và phúc lợi của họ. Vấn đề lớn nhất vẫn là nghèo đói và bệnh tật. Như vậy, biến đổi khí hậu cần được giải quyết cùng với các vấn đề khác như sốt rét và suy dinh dưỡng, bệnh tật và nghèo đói… Mỗi phần mười độ nóng lên mà chúng ta ngăn chặn được đều mang lại lợi ích to lớn, bởi vì khí hậu ổn định giúp cải thiện cuộc sống của con người dễ dàng hơn. Và vị tỷ phú này đã chỉ ra 3 sự thật (truths) của biến đổi khí hậu. Đó là:

Trên thực tế, từ nay đến năm 2040, chúng ta sẽ khó có thể hoàn thành các mục tiêu khí hậu toàn cầu. Một lý do là nhu cầu năng lượng của thế giới đang tăng lên – có thể tăng hơn gấp đôi vào năm 2050.
Xét về khía cạnh cải thiện cuộc sống, việc sử dụng nhiều năng lượng hơn là một điều tốt, bởi vì nó có mối tương quan chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế. Thật không may, những gì tốt cho sự thịnh vượng lại gây hại cho môi trường. Mặc dù có thêm năng lượng gió và mặt trời - rẻ hơn và tốt hơn, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của con người.
Tuy nhiên, theo tỉ phú Bill Gates, con người có sự đổi mới sáng tạo, đó là công cụ cần thiết để tạo ra những công nghệ mới không phát thải, giá cả phải chăng và có thể triển khai trên quy mô lớn toàn thế giới. Điều này sẽ được thực thi tốt trong vòng 10 năm tới những có những khoản đầu tư và chính sách đúng đắn. Khi đó, các quốc gia sẽ có thể xây dựng các tòa nhà bằng xi măng và thép ít carbon. Hầu hết ôtô mới sẽ chạy bằng điện. Các trang trại sẽ năng suất hơn và ít gây ô nhiễm hơn. Lưới điện sẽ cung cấp điện sạch một cách đáng tin cậy, và chi phí năng lượng sẽ giảm xuống.
Những đổi mới sáng tạo này đã có những tác động phần nào làm giảm biến đổi khí hậu. Mười năm trước, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự đoán đến năm 2040, thế giới sẽ thải ra 50 tỷ tấn carbon dioxide mỗi năm. Nhưng chỉ một thập kỷ sau, dự báo của IEA đã giảm xuống còn 30 tỷ tấn, và dự kiến lượng khí thải vào năm 2050 sẽ còn thấp hơn nữa. Trong 10 năm qua, chúng ta đã cắt giảm lượng khí thải dự kiến hơn 40%.
Tuy nhiên, ngay cả với những đổi mới này, lượng khí thải tích lũy vẫn sẽ gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu - nhiều người sẽ bị ảnh hưởng, và sẽ có một sự dịch chuyển vĩ độ, khi mà thời tiết ở các vùng phía Bắc sẽ dần giống phía Nam hơn, khô nóng và ít mưa hơn. Ví như, Texas sẽ bắt đầu trông giống miền bắc Mexico. Và vì thế, con người sẽ phải trải qua nhiều đợt nắng nóng, bão mạnh hơn và cháy rừng lớn hơn. Một số công việc ngoài trời sẽ cần phải tạm dừng trong những giờ nóng nhất trong ngày, và các chính phủ sẽ phải đầu tư vào các trung tâm làm mát và hệ thống cảnh báo sớm tốt hơn cho các hiện tượng thời tiết và nhiệt độ khắc nghiệt.
Tất nhiên, để đạt được mức phát thải ròng bằng 0, chúng ta cần nhiều đột phá hơn nữa. Điều này sẽ càng trở nên quan trọng hơn nếu bằng chứng mới cho thấy biến đổi khí hậu sẽ tồi tệ hơn nhiều so với dự đoán hiện tại. May mắn thay, khả năng phát minh của con người hiện nay tốt hơn bao giờ hết.

Sản xuất điện là nguồn phát thải lớn thứ hai, nhưng có lẽ là quan trọng nhất. Bởi để khử cacbon cho các lĩnh vực khác, chúng ta sẽ phải điện khí hóa rất nhiều thứ hiện đang sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta cần nhiều đổi mới hơn trong năng lượng tái tạo, truyền tải điện và các phương pháp khác để tạo ra và lưu trữ điện.
Những phương pháp tiếp cận mới về năng lượng gió có thể tạo ra nhiều năng lượng hơn bằng cách sử dụng ít đất hơn và những tiến bộ trong địa nhiệt có nghĩa là nó đang được khai thác ở nhiều nơi hơn trên thế giới. Các công ty đang thử nghiệm các đường dây điện hiệu suất cao có thể truyền tải nhiều điện hơn nhiều so với thế hệ cáp trước đây.
Chúng ta cần tiếp tục giảm chi phí năng lượng sạch sẵn có, bao gồm các cơ sở phân hạch và nhiệt hạch hạt nhân mới. Hơn một nửa lượng khí thải từ điện hiện nay có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng những nguồn này. Những tiến bộ trong công nghệ năng lượng địa nhiệt đang giúp việc sản xuất năng lượng này trở nên dễ dàng hơn.

Khi ai đó nói với bạn rằng họ biết cách hạn chế khí thải, câu hỏi đầu tiên bạn nên hỏi là: Kế hoạch của bạn cho xi măng và thép là gì? Chúng là chìa khóa cho cuộc sống hiện đại, và rất khó để khử cacbon trên quy mô toàn cầu vì chi phí sản xuất chúng bằng nhiên liệu hóa thạch quá rẻ.
Thép không phát thải đã có từ lâu. Nó được sản xuất bằng điện, vì vậy nếu bạn có thể mua được điện sạch với giá đủ rẻ, bạn sẽ có được thép sạch rẻ hơn thép thông thường. Công nghệ này vẫn cần được tiếp cận nhiều thị trường hơn và các công ty sản xuất thép sạch cần mở rộng năng lực sản xuất. Xi măng sạch cũng đối mặt với những thách thức tương tự. Một số công ty đã tìm ra cách sản xuất loại xi măng này mà không cần trả phí "Green Premium" – Bảo hiểm xanh, nhưng phải mất nhiều năm để có được chỗ đứng trên thị trường toàn cầu và tăng cường năng lực sản xuất.
Một trong những phát hiện bất ngờ lớn nhất về năng lượng trong thập kỷ qua là việc tìm ra hydro địa chất. Cuối cùng, hydro sẽ được sử dụng rộng rãi để sản xuất nhiên liệu sạch và giúp ích cho việc sản xuất thép và xi măng sạch. Hiện nay, chúng ta sản xuất hydro từ nhiên liệu hóa thạch hoặc bằng cách dẫn điện qua nước, nhưng hydro địa chất được tạo ra bởi chính Trái đất. Các công ty đã chứng minh rằng họ có thể tìm thấy nó dưới lòng đất; thách thức hiện nay là khai thác nó một cách hiệu quả. Cũng đã có nhiều tiến bộ trong việc sản xuất hydro bằng điện với chi phí rẻ hơn nhiều so với công nghệ hiện tại.
Các công ty đang bắt đầu triển khai các phương pháp để thu giữ carbon từ các cơ sở hiện đang phát thải nó, chẳng hạn như nhà máy xi măng và thép, hoặc để loại bỏ trực tiếp carbon từ không khí và lưu trữ vĩnh viễn. Nếu carbon thu giữ trở nên đủ rẻ, chúng ta thậm chí có thể sử dụng nó để sản xuất những thứ như nhiên liệu hàng không bền vững.

Phần lớn lượng khí thải từ nông nghiệp đến từ chỉ hai nguồn: sản xuất và sử dụng phân bón, chăn thả gia súc thải ra khí metan.
Nông dân hiện đã có thể mua một loại phân bón thay thế cho phân bón tổng hợp được sản xuất mà không phát thải khí độc hại, và một loại khác chuyển hóa khí metan trong phân chuồng thành phân bón hữu cơ. Cả hai đều đang được bán với mức giá hữu nghị. Thách thức hiện nay là sản xuất chúng với số lượng lớn và thuyết phục nông dân sử dụng.
Các chất phụ gia trong thức ăn chăn nuôi giúp ngăn chặn vật nuôi sản sinh khí metan hiện nay đã đủ rẻ để mang lại lợi nhuận cho nông dân, và một loại vaccine có tác dụng tương tự cũng đã được chứng minh là có hiệu quả. Hiện nay, vaccine này đang bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo.
Một nguồn phát thải khí metan khác là việc trồng lúa, một trong những loại lương thực chính quan trọng nhất thế giới. Các công ty đang hỗ trợ nông dân trồng lúa trên toàn thế giới áp dụng các phương pháp mới giúp giảm phát thải khí metan và tăng năng suất cây trồng.
Một vấn đề nan giải là một phần nitơ trong phân bón ngấm vào khí quyển dưới dạng oxit nitơ, một loại khí nhà kính mạnh. Nó rất loãng, nên rất khó thu giữ.

Gần 1/4 số xe được bán ra vào năm 2024 là xe điện, và hơn 10% tổng số xe trên thế giới là xe điện. Ở một số quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, xe điện vẫn còn những nhược điểm, chẳng hạn như thời gian sạc lâu và quá ít trạm sạc công cộng, khiến chúng không thực tế bằng xe chạy bằng xăng. Hơn nữa, ôtô chỉ là một phần của lĩnh vực này, phải tính cả các hoạt động khó giảm phát thải carbon như vận tải biển và hàng không.
Dự báo lượng khí thải từ máy bay sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050, và nhiên liệu máy bay sạch vẫn cần phải xanh hơn và rẻ hơn. Hiện nay, chúng ta chỉ biết đến hai cách sản xuất hiệu quả về mặt chi phí: sản xuất từ tảo hoặc sản xuất nhiên liệu tổng hợp bằng hydro giá rẻ. Các công ty đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu cả hai phương pháp này.
Khi ngày càng nhiều phương tiện giao thông chuyển sang sử dụng điện, nhu cầu về pin sẽ tăng lên, đó là lý do tại sao các công ty đã phát triển các phương pháp để làm cho chúng rẻ hơn và hiệu quả hơn.

Việc sưởi ấm và làm mát các tòa nhà hiện chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng khí thải toàn cầu, nhưng con số này sẽ tăng vọt cùng với quá trình đô thị hóa và nhu cầu ngày càng tăng về điều hòa không khí.
Máy bơm nhiệt điện được bán rộng rãi, hiệu quả hơn gấp năm lần so với nồi hơi và lò sưởi, và thường là lựa chọn tiết kiệm hơn. Tuy nhiên, trên toàn thế giới không có đủ công nhân lành nghề để lắp đặt chúng. Các máy bơm nhiệt thế hệ mới, siêu hiệu quả đã có mặt trên thị trường, và những loại dễ lắp đặt hơn đang được nghiên cứu phát triển. Ngoài ra còn có các sản phẩm không phát thải khác, bao gồm chất trám kín công trình và cửa sổ siêu tiết kiệm năng lượng. Nhưng cũng như nhiều công nghệ sạch khác, việc mở rộng quy mô cần thời gian.

Nhiệt độ toàn cầu không cho chúng ta biết gì về chất lượng cuộc sống của con người. Nếu hạn hán tàn phá mùa màng, liệu bạn có còn đủ tiền mua thực phẩm? Khi có đợt nắng nóng cực độ, liệu bạn có thể đến nơi có điều hòa không khí? Khi lũ lụt gây ra dịch bệnh, liệu trạm y tế địa phương có thể điều trị cho tất cả những người bị bệnh?
Chất lượng cuộc sống có vẻ là một khái niệm mơ hồ, nhưng thực ra không phải vậy. Một công cụ hữu ích để đo lường chất lượng cuộc sống là Chỉ số Phát triển Con người (Human Development Index – HDI) của Liên Hợp Quốc - cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình của người dân trong một quốc gia, từ 0 đến 1, với số càng cao thì kết quả càng tốt hơn.
Nếu bạn xem qua danh sách điểm số HDI của các quốc gia trên thế giới, bạn sẽ thấy rõ sự chênh lệch. Thụy Sĩ có HDI cao nhất, ở mức 0,96. Nam Sudan, quốc gia có HDI thấp nhất, ở mức 0,33. 30 quốc gia có điểm số HDI thấp nhất là nơi sinh sống của 1/8 cư dân trên trái đất, nhưng họ chỉ sản xuất khoảng 1/3 của 1% GDP toàn cầu. Họ có tỷ lệ nghèo đói cao nhất và là những quốc gia có kết quả sức khỏe kém nhất. Một đứa trẻ sinh ra ở Nam Sudan có nguy cơ tử vong trước sinh nhật thứ năm cao gấp 39 lần so với một đứa trẻ sinh ra ở Thụy Điển.
Sự bất bình đẳng này là lý do tại sao các chiến lược khí hậu của chúng ta cần ưu tiên phúc lợi con người. Điều này có vẻ hiển nhiên nhưng đôi khi phúc lợi con người bị đặt sau việc giảm phát thải, dẫn đến những hậu quả tiêu cực.
Ví dụ, vài năm trước, chính phủ của một quốc gia thu nhập thấp đã đặt mục tiêu cắt giảm khí thải bằng cách cấm phân bón tổng hợp. Năng suất nông nghiệp giảm mạnh, nguồn cung lương thực khan hiếm, và giá cả tăng vọt. Đất nước này đã rơi vào khủng hoảng vì chính phủ coi trọng việc giảm khí thải hơn những vấn đề quan trọng khác.
Đôi khi áp lực đến từ bên ngoài. Ví dụ, các tổ chức cho vay đa phương đã bị các cổ đông giàu có thúc đẩy ngừng tài trợ cho các dự án nhiên liệu hóa thạch, với hy vọng hạn chế khí thải bằng cách giữ nguyên dầu, khí đốt và than đá. Áp lực này hầu như không tác động đến lượng khí thải toàn cầu, nhưng lại khiến các nước thu nhập thấp khó tiếp cận các khoản vay lãi suất thấp cho các nhà máy điện, vốn sẽ cung cấp nguồn điện ổn định cho nhà ở, trường học và phòng khám của họ.
Phải thừa nhận rằng những tình huống như thế này rất phức tạp, bởi việc đốt nhiên liệu hóa thạch có thể giúp ích cho con người hiện tại nhưng lại khiến khí hậu trở nên tồi tệ hơn trong tương lai. Nhưng hãy nhớ rằng biến đổi khí hậu không phải là mối đe dọa lớn nhất đối với cuộc sống và sinh kế của người dân ở các nước nghèo, và nó cũng sẽ không phải là mối đe dọa lớn nhất trong tương lai.

Vài năm trước, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Tác động Khí hậu của Đại học Chicago (Mỹ) đã thực hiện một thí nghiệm tư duy: Số ca tử vong (dự kiến) do biến đổi khí hậu sẽ tăng hay giảm khi các quốc gia thu nhập thấp tăng trưởng kinh tế (dự kiến) trong thế kỷ này? Câu trả lời: Con số này giảm hơn 50%. Phát hiện này rất thú vị vì nó gợi ý một hướng đi mới. Vì tăng trưởng kinh tế được dự báo ở các nước nghèo sẽ giảm một nửa số ca tử vong do biến đổi khí hậu, nên tăng trưởng nhanh hơn và mở rộng hơn sẽ giảm số ca tử vong nhiều hơn nữa. Và tăng trưởng kinh tế gắn liền chặt chẽ với sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, người dân càng thịnh vượng và khỏe mạnh, chúng ta càng có thể cứu được nhiều sinh mạng hơn.
Khi bạn nhìn nhận vấn đề theo cách này, bạn sẽ dễ dàng tìm ra giải pháp tốt nhất cho việc thích ứng với khí hậu - đó là những lĩnh vực mà tài chính có thể đóng góp nhiều nhất để chống lại đói nghèo và cải thiện sức khỏe. Và đứng đầu danh sách đó là những cải tiến trong nông nghiệp.
Hầu hết các nước nghèo vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp. Trung bình, một hộ nông dân nhỏ ở những nước này kiếm được khoảng 2 USD/ngày. Và thu nhập từ ruộng đất của họ tương đối thấp và chỉ một trận hạn hán hoặc lũ lụt cũng có thể khiến họ mất trắng cả mùa vụ. Nhưng điện thoại di động đã và đang tạo ra sự khác biệt đáng kể. Nông dân sử dụng điện thoại để nhận lời khuyên về việc nên trồng cây gì, khi nào nên trồng và khi nào nên bón phân, được điều chỉnh bởi trí tuệ nhân tạo dựa trên đất đai, thời tiết và các điều kiện địa phương khác. Tại Ấn Độ, trong đợt gió mùa hè gần đây nhất, khoảng 40 triệu nông dân ở 13 tiểu bang đã nhận được cảnh báo trước qua tin nhắn SMS rằng mưa sẽ đến sớm và sau đó là hạn hán. Chỉ riêng tin nhắn đó đã cứu được hàng triệu mẫu Anh cây trồng.

Và công nghệ đang được cải thiện nhanh chóng: Trong năm năm tới, một nông dân có thu nhập thấp sẽ có thể nhận được lời khuyên tốt hơn bất kỳ lời khuyên nào dành cho những nông dân giàu nhất hiện nay.
Những tiến bộ trong chọn tạo giống cây trồng là một thành tựu đáng kể khác. Khoảng 20 năm trước, một nhóm các nhà khoa học nông nghiệp châu Phi nhận thấy mùa nóng và khô hạn đang gây áp lực lên các loại cây lương thực chính như ngô. Vì vậy, với sự hỗ trợ từ các quỹ và tổ chức phát triển, họ đã phát triển một giống ngô có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu biến đổi. Thành quả đã được chứng minh: Những hạt giống mới đã giúp một nhóm nông dân Kenya tăng sản lượng ngô lên 66%, đủ nuôi sống một gia đình sáu người trong một năm mà vẫn còn dư 880 USD để bán. Con số này tương đương với thu nhập của họ trong năm tháng.
Danh sách các sáng kiến còn dài. Ví dụ, các nhà nghiên cứu đã giúp nông dân xác định các giống gia súc có khả năng chống chịu tốt hơn trong điều kiện khắc nghiệt. Và loại phân bón tự nhiên không phát thải mới để phù hợp với điều kiện ở các nước thu nhập thấp. Các nhà khoa học tại Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu ở Ấn Độ phát hiện ra rằng khi nông dân sản xuất nhỏ bổ sung các loại phân bón sinh học này vào ruộng, năng suất của họ tăng tới 20%.
Những cải thiện như thế này cần song hành với việc cải thiện sức khỏe. Thời tiết quá nóng hiện gây ra khoảng 500.000 ca tử vong mỗi năm. Tuy nhiên, con số này đã giảm chủ yếu là do ngày càng nhiều người ở các nước đang phát triển có khả năng chi trả cho máy điều hòa. Đây là một tin tốt.
Câu chuyện về thiên tai cũng tương tự. Trong thế kỷ qua, số ca tử vong trực tiếp do thiên tai, chẳng hạn như chết đuối trong lũ lụt, đã giảm 90%, xuống còn khoảng 40.000 đến 50.000 người mỗi năm, chủ yếu nhờ hệ thống cảnh báo tốt hơn và các tòa nhà kiên cố hơn. Nhưng số ca tử vong gián tiếp do thiên tai lại không giảm theo cùng một mô hình. Trong hầu hết các trường hợp hiện nay, những người bị ảnh hưởng bởi bão và lũ lụt có nguy cơ tử vong do bệnh lây truyền qua đường nước cao hơn. Khi nước lũ làm ô nhiễm nguồn nước uống, chúng tạo ra môi trường lý tưởng cho virus tả và rota, gây tiêu chảy và đặc biệt nguy hiểm cho trẻ em. Lũ lụt nhiều hơn đồng nghĩa với việc tử vong do tiêu chảy cũng nhiều hơn.
Nhưng mầm bệnh không chờ bão hay lũ lụt mới lây nhiễm cho con người. Bệnh tiêu chảy cướp đi sinh mạng của hơn một triệu người mỗi năm và phần lớn các ca nhiễm bệnh không xảy ra đột ngột. Chúng là một phần của cuộc sống ở một quốc gia thu nhập thấp. Và, đáng buồn thay, chúng không phải là mối đe dọa sức khỏe dai dẳng duy nhất. Những nguyên nhân gây tử vong chính khác ở các nước nghèo như sốt rét, lao, HIV/AIDS, nhiễm trùng đường hô hấp và biến chứng khi sinh nở - còn được gọi là các vấn đề sức khỏe liên quan đến nghèo đói, giết chết khoảng 8 triệu người mỗi năm.
Gánh nặng còn lớn hơn khi tính đến những vấn đề sức khỏe không gây tử vong nhưng lại khiến họ quá ốm yếu, không thể làm việc, đi học hoặc chăm sóc con cái. Nếu một phụ nữ mang thai đã bị suy dinh dưỡng rồi lại bị cắt nguồn cung cấp thực phẩm do lũ lụt, cô ấy càng có nguy cơ sinh non, và con cô ấy càng dễ bị thiếu cân khi chào đời. Nhưng nếu cô ấy được nuôi dưỡng tốt ngay từ đầu, cô ấy và em bé sẽ có cơ hội khỏe mạnh hơn nhiều.
Như vậy chúng ta nên đối phó với dịch bệnh và thời tiết cực đoan tương xứng với mức độ đau khổ mà chúng gây ra, và chúng ta nên giải quyết những nguyên nhân gốc rễ khiến con người dễ bị tổn thương trước những hiện tượng này. Trong khi cần hạn chế số ngày nắng nóng và lạnh giá khắc nghiệt, chúng ta cũng cần đảm bảo rằng số người sống trong nghèo đói và sức khỏe yếu kém giảm đi, để thời tiết cực đoan không còn là mối đe dọa lớn đối với họ.
Trí tuệ nhân tạo đã bắt đầu hỗ trợ thực hiện điều đó. Ví dụ, ngày nay, các thiết bị hỗ trợ AI giúp nhân viên y tế thực hiện siêu âm cho phụ nữ mang thai ở những vùng có thu nhập thấp - một bước đột phá giúp nhiều phụ nữ hơn nữa được điều trị cần thiết để sống sót sau khi sinh và sinh ra một em bé khỏe mạnh. AI cũng đang giúp các nhà nghiên cứu phát triển vaccine và phương pháp điều trị mới nhanh hơn, bổ sung vào danh sách dài các công cụ cứu sinh giá cả phải chăng hiện có, bao gồm vaccine, thực phẩm tăng cường sinh học, màn ngủ và các phương pháp điều trị các bệnh như AIDS, sốt rét và lao.
Lợi ích của việc cải thiện sức khỏe và nông nghiệp không chỉ dừng lại ở khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Ví dụ, khi tỷ lệ sống sót của trẻ em tăng lên, một điều bất ngờ xảy ra: Mọi người lựa chọn sinh ít con hơn. Khi điều này xảy ra, chính phủ các nước nghèo có thể đầu tư nhiều hơn vào trường học và trạm y tế, đường sá và cảng biển, hệ thống vệ sinh và lưới điện. Những điều này đến lượt mình giúp cải thiện sức khỏe và tăng thu nhập. Đó là một vòng tuần hoàn tích cực đáng chú ý và nó được khởi động bởi sức khỏe và nông nghiệp tốt hơn.








Bình luận của bạn