



Triết học cổ đại phương Đông - cơ sở lý luận và đồng thời cũng là bản sắc của y học cổ truyền phương Đông, được xây dựng trên nền tảng một hệ thống quan niệm về thế giới tự nhiên, về con người và xã hội một cách nguyên thủy, sơ khai nhưng về cơ bản là đúng đắn. Dịch học đã tổng kết được những quy luật của tự nhiên, con người và xã hội và biểu đạt trong những quy luật cơ bản: quy luật Âm - Dương với Âm Dương tương giao, tương khắc, tương phản, tương cầu, tương ứng… thể hiện sự thống nhất và mâu thuẫn của hai mặt đối lập; quy luật phản phục phản ánh sự vận động phổ biến của tự nhiên là biến đổi một cách tuần hoàn và liên tục
Những kết quả do trực quan thiên tài của người xưa tổng kết đã đưa ra nhiều giả thuyết thể hiện trình độ nhận thức đương thời về thế giới khách quan mà ngày nay một số giả thuyết đó đã được khoa học hiện đại chứng minh là đúng đắn. Một số giả thuyết chưa được chứng minh không hẳn vì các giả thuyết đó sai mà thật ra khoa học hiện đại cũng chưa tìm được các công cụ và phương pháp luận thích hợp để giải thích, chứng minh.
Phương pháp luận tư duy của triết học cổ phương Đông và của y học cổ truyền là phương pháp tiếp cận hệ thống. Nguyên lý “Thiên Địa Nhân hợp nhất” và “Con người là một tiểu vũ trụ” thể hiện phương pháp tiếp cận hệ thống của y học cổ truyền khi nghiên cứu về con người, sức khỏe và bệnh tật.
Phương pháp tư duy của triết học cổ phương Đông và lý luận y học cổ truyền luôn luôn khác một cách cơ bản với phương pháp tư duy trong y học hiện đại. Khoa học hiện đại - mà điển hình là vật lý học hiện đại, coi nguyên lý bài trung (middle excluded principle) là nguyên tắc phổ biến và luôn luôn đúng khi xem xét mọi sự vật và hiện tượng. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) phương Tây có nguồn gốc từ nguyên lý bài trung.
Triết học cổ đại và lý luận y học cổ truyền phương Đông không sử dụng phương pháp tư duy logic bài trung mà ngược lại, chấp nhận và đề cao ý nghĩa của trung dung, chấp nhận sự tồn tại đồng thời của các mặt đối lập, bổ sung hài hòa cho nhau, nương tựa vào nhau: trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Dương xướng Âm họa… Vũ trụ là Dương, con người là Âm. Vũ trụ là khuôn của con người. Vũ trụ chi phối con người nhưng vũ trụ và con người là một (thiên nhân hợp nhất).

Một trong những sự khác biệt rõ rệt giữa y học hiện đại và y học cổ truyền là ở chỗ: y học hiện đại dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy lý của nền văn minh phương Tây, tuyệt đối hóa các hiểu biết về vũ trụ, tự nhiên, xã hội và con người về phương diện vật lý mà không quan tâm đầy đủ về phương diện triết học và đạo đức. Y học hiện đại đã tuyệt đối hóa vai trò của thực nghiệm khách quan, coi đó là phương pháp duy nhất đúng để nghiên cứu con người và sức khỏe, bệnh tật. Trên cơ sở sự khác biệt đó, một số người trong giới y khoa hiện đại coi y học cổ truyền không có cơ sở khoa học.
Vấn đề là phải trả lời được câu hỏi lớn: khoa học hiện đại chưa chứng minh được cơ sở khoa học của y học cổ truyền hay y học cổ truyền không bao giờ có cơ sở khoa học. Nếu chúng ta đã có đủ phương pháp luận, tri thức và công cụ thực nghiệm để chứng minh được hệ thống lý luận và phương pháp của y học cổ truyền là sai thì có thể cho rằng y học cổ truyền không bao giờ có cơ sở khoa học. Ngược lại, nếu khoa học hiện đại chưa chứng minh được y học cổ truyền là sai thì phải công nhận rằng hệ thống lý luận và phương pháp của y học cổ truyền là đúng – mặc dù khoa học hiện đại chưa chứng minh được.
Việt Nam là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, cách đây vài thế kỷ, đã sử dụng chữ Hán và chịu ảnh hưởng của Dịch học và Khổng học, do đó, không có gì lạ là y học cổ truyền Việt Nam có chung cơ sở lý luận với y học cổ truyền phương Đông như các quốc gia khác ở Châu Á. Tuy nhiên, do vị trí địa lý và khí hậu nhiệt đới nóng - ẩm, khác biệt với khí hậu các nước Bắc Á, y học cổ truyền Việt Nam một mặt có chung cơ sở lý luận và một số đặc điểm của y học cổ truyền phương Đông nhưng mặt khác còn hàm chứa bản sắc riêng của một nền y học cổ truyền nhiệt đới. Các đại diện lỗi lạc của y học cổ truyền dân tộc Việt Nam đã tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình đấu tranh phòng chống bệnh tật, bảo vệ sức khỏe của nhân dân ta - có đặc điểm thể tạng riêng, sống trong một vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa là nguyên nhân của nhiều bệnh “thời khí” - để bổ sung cho nền y học cổ truyền phương Đông. Y học cổ truyền Việt Nam là một kho tàng tri thức và kinh nghiệm điều trị các bệnh “phong hàn”, “phong nhiệt”, về sử dụng sáng tạo các dược liệu bản địa và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc như châm cứu, bấm huyệt, cạo gió, xông dược liệu và tinh dầu, chích lễ...
Sự sáng tạo của các thế hệ thầy thuốc y học cổ truyền Việt Nam đã được đại danh y Tuệ Tĩnh tổng kết thành các nguyên tắc thể hiện trong nhiều trước tác y học của ông. Lời tựa của tác phẩm “Thập tam phương gia giảm” của Tuệ Tĩnh đã thể hiện việc ứng dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm y học cổ truyền phương Đông vào hoàn cảnh địa lý, khí hậu và thể tạng của con người Việt Nam.

Điều kiện địa lý, khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù của Việt Nam cũng đã tạo nên một hệ động thực vật vô cùng phong phú và khác biệt, là nguồn nguyên liệu làm thuốc của y học cổ truyền Việt Nam, được y học cổ truyền của nhiều nước Châu Á sử dụng như những dược liệu quý một cách hết sức phổ biến đến mức nhiều dược liệu có nguồn gốc từ Việt Nam lại bị ngộ nhận là “thuốc Bắc” như: quế, sa nhân, ý dĩ, thảo quả, sử quân tử, hoắc hương, đậu khấu… Trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu”, Tuệ Tĩnh đã thống kê và mô tả được 499 vị thuốc trong đó có đến 82 vị thuốc được phát hiện trong dân gian dùng để chữa bệnh. Tuệ Tĩnh cũng đã tổng kết và đề ra nguyên lý độc đáo: “Nam dược trị Nam nhân”. Trong trước tác “Nam dược quốc ngữ phú” hai câu: “Tôi tiên sư kính đạo tiên sư/Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt” đã thể hiện tư tưởng về sự kế thừa, tiếp thu một cách sáng tạo y học cổ truyền phương Đông và khẳng định bản sắc dân tộc của y học cổ truyền Việt Nam trong kho tàng y học cổ truyền phương Đông.

Nhân loại đang bắt đầu thiên niên kỷ thứ ba với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng công nghiệp 4.0). Người ta đang tổng kết những thành tựu khoa học công nghệ của thế kỷ XX và phác họa sự phát triển của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong thế kỷ XXI nhưng điều đáng tiếc là hình như chúng ta đang biết rất ít về những hệ quả tiêu cực do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã đem lại cho nhân loại và cho thiên nhiên.
Có thể tìm ra vô vàn ví dụ để chứng minh một nghịch lý trong xã hội văn minh vật chất này. Hình như nhân loại mỗi khi có vài bước tiến về phía trước, tự giải phóng mình khỏi những ràng buộc của tự nhiên, thì ngay sau đó phải lùi lại một bước: giải phóng năng lượng nguyên tử và thảm họa hạt nhân, công nghiệp hóa và ô nhiễm môi trường, hủy hoại tầng ozon, trái đất nóng lên và thảm họa nước biển dâng, khai thác tài nguyên thiên nhiên với quy mô lớn và sự tận diệt các nguồn lợi tự nhiên, hủy diệt vô số loài thực vật và động vật, các nguồn tài nguyên không phục hồi được (khoáng sản, dầu mỏ…). Nước, một thành phần của sự sống mà có lúc ta tưởng là nguồn tài nguyên vô tận, đang cạn kiệt và theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 60% nhân loại đang thiếu nước sạch, nguyên nhân gây ra cái chết của hàng triệu trẻ em và người lớn mỗi năm. Tốc độ diệt chủng do con người gây ra đối với động, thực vật cao gấp 1.000 lần so với sự diệt chủng trong tự nhiên. Liên Hợp Quốc dự đoán với đà diệt chủng như hiện nay, đến giữa thế kỷ XXI 50% tổng số loài động, thực vật trên trái đất sẽ biến mất.
Y học hiện đại - thừa hưởng thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, trong những thập kỷ gần đây đã đạt được những thành tựu sáng chói trong công cuộc phòng chống bệnh tật và nâng cao sức khỏe con người. Nhưng y học hiện đại – đặc biệt là nền y học và y tế của nhiều nước phát triển – cũng đang bộc lộ những hạn chế và nhược điểm. Y học hiện đại có lúc đã tuyệt đối hóa vai trò của thầy thuốc, đưa vị trí của người thầy thuốc lên hàng đầu mà lãng quên vai trò tự chăm sóc sức khỏe của mỗi người và người bệnh với tất cả những đặc điểm về thể tạng, tinh thần và điều kiện sống của họ. Y học đã được khoa học hóa, công nghiệp hóa bằng những kỹ thuật y khoa sang trọng, đắt tiền (sophisticated medicinal technology) và những thuốc mới sáng chế (innovated medicines) cùng với những tác dụng mới nhưng cũng kèm theo những phản ứng có hại (adverse reaction) chưa lường trước được. Dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe đã được thương mại hóa và đang trở thành một nền công nghiệp y tế hùng mạnh ở các nước phát triển với tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều ngành công nghiệp khác. Chi phí chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh tật đang tăng với tốc độ chóng mặt vượt quá khả năng chi trả của người dân và trở thành “cái bẫy đói nghèo” cho những tầng lớp dân cư dễ bị tổn thương (vulnerable groups).
Hơn nửa thế kỷ phát triển của khoa học – kỹ thuật vừa qua làm cho chúng ta hiểu khá rõ về thể xác con người. Các nhà khoa học đã thành công trong việc giải mã và vẽ bản đồ gen của con người. Các nhà sinh học và y học cũng đã thành công trong việc thiết kế một thai nhi theo ý muốn của bố mẹ. Nhưng một câu hỏi đặt ra là: đến bao giờ chúng ta có thể vẽ được chính xác “bản đồ tinh thần” của con người. Hình như hiểu biết về thể xác càng nhiều bao nhiêu thì hiểu biết về tinh thần của con người càng ít bấy nhiêu.
Trong y học hiện đại, càng ngày chúng ta càng có thể hiểu biết nhiều hơn về cơ thể người bệnh, đến mức độ tế bào, về cơ chế bệnh sinh đến mức độ phân tử nhưng ta biết rất ít về trí tuệ, tinh thần và cảm xúc của người bệnh này và người bệnh khác. Hàng trăm năm nay, y học hiện đại cho rằng sức khỏe và bệnh tật chỉ liên quan đến thể xác con người.

Và như vậy, chỉ đến những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, y học hiện đại mới công nhận một thực tế hết sức cơ bản mà y học cổ truyền phương Đông đã nêu lên từ hàng ngàn năm trước. Theo học thuyết Âm - Dương, tâm linh (tinh thần) và thể xác không tách rời nhau. Mỗi hành động, trạng thái tốt hay xấu của thể xác đều ánh xạ lên tâm linh và ngược lại. Đã có không ít nhà khoa học hiện đại lên tiếng cảnh báo về hậu quả của sự ứng xử tàn bạo của con người với các giới tự nhiên. Và ở đây, một lần nữa những nguyên lý của y học cổ truyền phương Đông đã tỏ ra hết sức minh triết: mọi sự thái quá đều đem đến những hậu quả tai hại. Âm cực sinh Dương. Dương cực sinh Âm. Khi đối xử với tự nhiên, con người cũng phải cẩn trọng như khi đối xử với chính mình phù hợp với nguyên lý “thiên nhân hợp nhất”. Có thể nói, xu thế trở lại với thiên nhiên, tôn trọng tự nhiên, tìm lại những giá trị văn hóa cổ truyền - vật thể và phi vật thể - trong đó có y lý và y đạo cổ truyền, kết hợp với khoa học hiện đại để làm sáng tỏ cơ sở khoa học của những điều tưởng như huyền bí của bao thế hệ người xưa để lại nhằm đáp ứng những nhu cầu nâng cao sức khỏe thể xác và tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống không những của thế hệ hiện nay mà cả cho các thế hệ tương lai.

Văn hóa phương Đông và y học cổ truyền phương Đông chứa đựng những giá trị tiềm ẩn cực kỳ quý báu nhưng chưa được nghiên cứu làm sáng tỏ.
Lý luận y học cổ truyền phương Đông rất phong phú, độc đáo, sâu sắc, tiếp cận vấn đề sức khỏe và bệnh tật trên cơ sở phương pháp tư duy tổng thể, biện chứng, toàn diện nhưng rất tiếc là được diễn đạt một cách trừu tượng, có tính định tính và rất ít tính định lượng. Thực hành chẩn đoán và điều trị của y học cổ truyền mặc dù đã được thực nghiệm trên thực tế (field tested) trên hàng trăm triệu người trong suốt hàng ngàn năm lịch sử nhưng trong đa số trường hợp chưa được chứng minh bằng khoa học kỹ thuật hiện đại. Chính vì lý do này mà việc tìm hiểu, học tập, thừa kế, phổ biến, phát huy y học cổ truyền gặp không ít khó khăn trong đời sống và xã hội hiện đại.
Trong quá trình hình thành và phát triển nền y học cổ truyền phương Đông, ngay từ buổi sơ khai các nhà y học cổ truyền đương thời cũng đã nghĩ đến việc sử dụng phương pháp đối chứng, so sánh để đánh giá hiệu quả của dược liệu và các phương pháp chữa bệnh. Từ thế kỷ X, để đánh giá tác dụng của nhân sâm người ta đã so sánh sức bền của người sử dụng nhân sâm và người không sử dụng nhân sâm khi cùng chạy trên một quãng đường (Bencao Tujong, Atlas of Materia Medica, 1061, A.D.). Mặc dù vậy, các phương pháp đối chứng được áp dụng trong lịch sử chưa đáp ứng được các đòi hỏi và tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các phương pháp thực nghiệm khoa học hiện đại. Vì vậy, lý luận và thực hành của y học cổ truyền chủ yếu được tổng kết từ kinh nghiệm lâm sàng, được truyền miệng và chỉ có một số ít được ghi chép, tổng kết trong một số y văn kinh điển cổ xưa. Thực ra, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng chỉ là một trong những nghiên cứu y khoa đơn giản. Nó còn cần được bổ sung bằng các nghiên cứu thực nghiệm khoa học thiết kế trên các mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát (RCT: Randomised Controlled Trial) để tiến tới trở thành một nền y học bằng chứng (EBM: Evidence Based Medicine).
Người xưa không phải không biết về những hạn chế của trình độ khoa học kỹ thuật đương thời. Trước rất nhiều hiện tượng thiên nhiên và xã hội, người xưa có câu: “tri kỳ nhiên, bất tri kỳ sở hữu nhiên”, tạm dịch: biết là thế nhưng không hiểu vì sao như thế. Trong y học cổ truyền, câu nói này thể hiện sự hạn chế của trình độ khoa học kỹ thuật đương thời, chưa giải thích và chứng minh được cơ sở khoa học của y học cổ truyền.
Ngày nay, y học cổ truyền cần được hiện đại hóa để tránh nguy cơ trở thành một thứ đồ cổ trong chiều sâu của thời gian mà phải trở thành một nền y học phục vụ con người trong xã hội hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mọi người đối với y học cổ truyền. Mặc dù người bệnh và nhân dân có thể chấp nhận sử dụng y học cổ truyền dựa trên lòng tin và kinh nghiệm lưu truyền từ ngàn năm nhưng người bệnh, thầy thuốc và các nhà quản lý y tế vẫn ngày càng mong muốn các phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền phải an toàn, có chất lượng, hiệu quả và phải được giám sát để bảo vệ lợi ích của người bệnh. Các thầy thuốc trong xã hội hiện đại đòi hỏi phải làm sáng tỏ cơ sở khoa học của y học cổ truyền để dễ dàng chấp nhận sử dụng y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, để y học cổ truyền trở thành một thành phần hữu cơ của nền y học tiên tiến. Cơ sở khoa học của y học cổ truyền cũng giúp cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý y tế đưa ra những quyết định đúng đắn.

Để hiện đại hóa y học cổ truyền, trước tiên phải thừa kế tốt cả lý luận và các phương pháp của y học cổ truyền. Thừa kế là cơ sở để phát huy, phát triển và hiện đại hóa. Phải hiểu sâu sắc và thừa kế tốt lý luận y học cổ truyền vì hệ thống lý luận này là bản sắc của y học cổ truyền. Trên cơ sở thừa kế, cần sử dụng khoa học hiện đại làm công cụ nghiên cứu để chứng minh, giải thích và nâng cao. Có thể dùng khoa học hiện đại để tạo ra những kỹ thuật mới mà người xưa đã có lý luận và phương pháp nhưng chưa phát huy được trrong xã hội hiện đại. Hiện đại hóa y học cổ truyền cũng có nghĩa là sử dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để làm cho y học cổ truyền có hiệu quả hơn. Trên ý nghĩa đó, sự tham gia nghiên cứu y học cổ truyền của các nhà y học, các nhà khoa học thuộc các ngành vật lý, hóa học, sinh học và đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin… là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Nói đến hiện đại hóa y học cổ truyền không thể không đề cập đến việc hiện đại hóa nhưng vẫn phải giữ gìn bản sắc của thuốc cổ truyền. Cần thực hiện tốt công tác thừa kế các vị thuốc, các phương dược, các phương pháp chế biến, bào chế cổ truyền, kể các các cây thuốc, vị thuốc dân gian, đặc biệt là của hơn 50 dân tộc ít người trên lãnh thổ Việt Nam. Cần sưu tầm và nắm vững phương pháp và công nghệ chế biến, bào chế cổ truyền. Đặc biệt cần nghiên cứu cơ sở khoa học của phép lập phương, nghiên cứu, đánh giá độ an toàn, hiệu lực của thuốc cổ truyền. Với sự phát triển của hóa học và sinh học hiện nay, chúng ta có cơ sở để tiêu chuẩn hóa các vị thuốc và dược liệu đồng thời có thể hiện đại hóa công nghệ chế biến, bào chế thuốc cổ truyền để xây dựng một nền công nghiệp bào chế thuốc cổ truyền đặc sắc của Việt Nam.
Hiện đại hóa nhưng vẫn giữ bản sắc chính là phải nắm vững tính năng, quy kinh và phép bổ tả của bài thuốc, phương thuốc cổ truyền, giữ gìn tôn trọng phép phối ngũ, lập phương để bảo toàn hiệu lực của những bài thuốc cổ truyền dưới những dạng bào chế mới, hiện đại, có hiệu lực cao hơn, chất lượng tốt hơn, an toàn, dễ bảo quản, tiện dùng phù hợp với điều kiện sống của xã hội công nghiệp. Hiện đại hóa thuốc cổ truyền còn có tác dụng đẩy mạnh việc sử dụng thuốc cổ truyền ở các nước công nghiệp phát triển, tăng cường lòng tin của thầy thuốc y học hiện đại và của nhân dân đối với nền y học phương Đông, tăng cường sự giao lưu, hợp tác của hai nền y học, làm cho y học cổ truyền phương Đông ngày càng có vị trí xứng đáng trên thế giới.
Giữ gìn bản sắc của y học cổ truyền không có nghĩa là bảo thủ, không chịu cải tiến, không chịu áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và những thành quả của khoa học hiện đại để làm sáng tỏ cơ sở khoa học và phát huy hơn nữa hiệu quả của y học cổ truyền. Giữ gìn bản sắc phải đi đôi với hiện đại hóa, nếu không y học cổ truyền sẽ thành một thứ đồ cổ trong sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Hiện đại hóa nhưng đánh mất bản sắc là đánh mất phép tư duy biện chứng trong nhận thức về tình trạng sức khỏe và bệnh tật của con người.
Hiện đại hóa y học cổ truyền chắc chắn là một quá trình lâu dài. Một mặt, do nhận thức là một quá trình đồng thời với tiến trình phát triển khoa học và công nghệ. Tiêu chí để đánh giá sự thành công của quá trình hiện đại hóa y học cổ truyền là phải làm tăng tính an toàn và hiệu quả của y học cổ truyền nhằm vào việc phục vụ lợi ích của người bệnh.








Bình luận của bạn