Những tiến bộ khoa học trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng

AstraZeneca Việt Nam phối hợp cùng Bệnh viện K tổ chức hội thảo khoa học hưởng ứng Ngày Ung thư Buồng trứng thế giới.

Bác sỹ gợi ý: Cách phân biệt IBS và ung thư buồng trứng giai đoạn sớm

Dấu hiệu cảnh báo ung thư buồng trứng bạn nên biết

Cần biết: Những biến chứng từ quá trình điều trị ung thư buồng trứng

Điều trị ung thư buồng trứng bằng liệu pháp miễn dịch có hiệu quả?

Theo số liệu từ Globocan, trong năm 2022 Việt Nam ghi nhận khoảng 1.500 ca mắc mới và khoảng 1.000 ca tử vong do ung thư buồng trứng. Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được rõ ràng. Rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh và các yếu tố môi trường, chế độ ăn, sinh sản, nội tiết, virus và di truyền, trong đó yếu tố gia đình đã được xác nhận, khoảng 7% ung thư buồng trứng có mang tính chất gia đình.

Những phụ nữ có mẹ và chị em gái mắc bệnh này có nguy cơ mắc tăng gấp 20 lần cộng đồng.Tiền sử gia đình (chủ yếu là ở người bệnh có từ 2 người thân trực hệ bị ung thư buồng trứng) liên quan tới gene BRCA1 và BRCA2 (hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền [HBOC]).

Người bệnh ung thư buồng trứng có đột biến BRCA1/2 chiếm khoảng 15% (dao động từ 7%–21%) tổng số người bệnh ung thư buồng trứng. Tuổi cao cũng là một yếu tố nguy cơ vì tỷ lệ mắc ung thư biểu mô buồng trứng tăng dần theo số lần rụng trứng. Những người có thai trước 25 tuổi, mãn kinh sớm cũng liên quan đến giảm tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng.

Hưởng ứng Ngày Ung thư Buồng trứng thế giới (8/5), AstraZeneca Việt Nam phối hợp cùng Bệnh viện K tổ chức Hội thảo khoa học “Củng cố bằng chứng sống còn trong điều trị ung thư buồng trứng tiến triển: Vai trò của thuốc ức chế PARP từ dữ liệu đến thực tế”.

Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến

Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến

Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước tham gia trực tiếp tại các điểm chính như bệnh viện K, Ung bướu Nghệ An, Ung bướu Bắc Ninh và tham gia trực tuyến. Hội thảo tập trung vào các cập nhật trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng, đặc biệt là các chiến lược điều trị cá thể hóa và điều trị duy trì nhằm cải thiện kết quả lâu dài cho người bệnh.

Bên cạnh đó, thông qua các phiên trao đổi ca lâm sàng, các chuyên gia đã cùng thảo luận về các tình huống điều trị thực tế và kinh nghiệm thực hành trong quản lý người bệnh tại Việt Nam.

BSCKII. Võ Thanh Nhân – Trưởng khoa Ung Bướu Phụ Khoa, Bệnh viện Từ Dũ chia sẻ: “Một trong những thách thức lớn nhất của ung thư buồng trứng là bệnh thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn tiêu hóa thông thường. Điều này khiến nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thăm khám sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân”.

Những thách thức về chẩn đoán và tiến bộ khoa học trong điều trị ung thư buồng trứng

Theo các số liệu dịch tễ học, tỷ lệ sống còn sau 5 năm của người bệnh ung thư buồng trứng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện, với khoảng 90,5% ở giai đoạn sớm nhưng giảm xuống còn 30,2% ở giai đoạn muộn.

Nếu không áp dụng điều trị duy trì, hơn 50% người bệnh ung thư buồng trứng tiến triển có đặc điểm HRD (thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng) dương tính có thể tái phát trong vòng 1 năm, với thời gian tái phát trung bình khoảng 10,2 tháng. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có dưới 40% người bệnh được xét nghiệm HRD toàn diện (theo nghiên cứu đời thực tại Mỹ), trong khi việc xác định dấu ấn sinh học của khối u đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp và tối ưu hóa kết quả lâu dài.

Trong bối cảnh đó, những tiến bộ trong hơn hai thập kỷ qua, từ việc thiết lập nền tảng hóa trị chuẩn đến sự phát triển của các liệu pháp nhắm trúng đích sinh học phân tử đặc hiệu với chiến lược điều trị duy trì sau đáp ứng ban đầu, đang từng bước định hình lại tiêu chuẩn điều trị mới. Những tiến bộ này giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh nhiều năm, hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh lâu dài thay vì chỉ điều trị ngắn hạn.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ về những thách thức trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng tại hội thảo

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ về những thách thức trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng tại hội thảo

Tại hội thảo, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ: “Phần lớn bệnh nhân ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, bên cạnh điều trị ban đầu, việc xây dựng các chiến lược kiểm soát bệnh bền vững, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng.

Tại Việt Nam, AstraZeneca đã và đang không ngừng thúc đẩy giải pháp toàn diện trong quản lý ung thư buồng trứng từ chẩn đoán chính xác, cá thể hóa điều trị và tư vấn di truyền.

Chia sẻ về tầm nhìn trong lĩnh vực điều trị ung thư, ông Atul Tandon – Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc AstraZeneca Việt Nam cho biết: "Với triết lý lấy người bệnh làm trung tâm, chúng tôi không ngừng nỗ lực đồng hành cùng cộng đồng y khoa để mang đến những tiến bộ khoa học mới nhất, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ thiết thực nhằm cải thiện chất lượng sống và kết quả điều trị lâu dài cho bệnh nhân".

Ngoài ra, AstraZeneca cũng tài trợ triển khai các chương trình hỗ trợ người bệnh tại các bệnh viện, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, phát triển các kênh tư vấn trực tuyến, kết nối cộng đồng bệnh nhân và triển khai các sáng kiến hỗ trợ chi phí điều trị.

Trong thời gian tới, theo ông Atul Tandon, AstraZeneca sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý bệnh ung thư buồng trứng tại Việt Nam. Những nỗ lực này kỳ vọng sẽ từng bước cải thiện khả năng tiếp cận các tiến bộ y học, đồng thời hỗ trợ người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc lâu dài.

 

Trong 3 thập kỷ có mặt tại Việt Nam, AstraZeneca đã hợp tác với Bộ Y tế và các đối tác trong ngành để thực hiện nhiều chương trình có sức ảnh hưởng, nhằm thúc đẩy nhận thức, phòng ngừa và phát hiện sớm bệnh tật. Điển hình là chương trình “Vì lá phổi khỏe” nhằm nâng cao chất lượng quản lý ngoại trú cho bệnh hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ung thư phổi; chương trình “Sức khỏe Thanh thiếu niên” nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các hành vi nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm ở thanh thiếu niên; chương trình “CaReMe-Yêu lấy mình” để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh trong nhóm Tim mạch - Thận - Chuyển hóa; chiến dịch “Thương phổi” nhằm nâng cao nhận thức sàng lọc phát hiện sớm ung thư phổi; và chương trình “Hợp tác vì Tính bền vững và khả năng chống chịu của Hệ thống Y tế” (PHSSR) nhằm góp phần củng cố hệ thống y tế Việt Nam để có thể ngăn ngừa và ứng phó với các rủi ro trong tương lai.

AstraZeneca cũng đang đầu tư 360 triệu USD vào Việt Nam trong giai đoạn 2020 - 2030 nhằm giảm gánh nặng bệnh tật, tăng cường hệ thống y tế, nâng cao năng lực sản xuất và nghiên cứu dược phẩm sinh học trong nước, đồng thời phát triển nhân tài.

 
Hiệp Nguyễn
Mời quý vị độc giả đọc tin hàng ngày về chủ đề sức khỏe tại suckhoecong.vn trong chuyên mục Xã hội