


Thực tế, đây không phải là lần đầu tiên chăm sóc sức khỏe chủ động được đề cập tới. Từ khi thành lập nước tới nay, chăm sóc sức khỏe chủ động, phòng bệnh hơn chữa bệnh vẫn được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm. Phòng bệnh hơn chữa bệnh luôn là chủ trương lớn của ngành y tế. Bức thư Bác Hồ gửi ngành y tế là một minh chứng rõ nét về chủ trương này. Hay như trong việc hướng dẫn trẻ em, người già vệ sinh thân thể, chế độ ăn uống hàng ngày… đều là minh chứng rõ nét của dự phòng bệnh tật từ sớm.
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, theo tôi là đúng thời điểm. Phải nhìn thẳng vào sự thực là, đã có một khoảng thời gian dài chúng ta để chữa bệnh lấn át phòng bệnh, dẫn đến công tác y tế dự phòng bị “coi nhẹ”, không được chú trọng đúng mức. Hệ quả là, người dân không được phát hiện bệnh sớm, bỏ lỡ cơ hội điều trị, làm tăng gánh nặng chi phí y tế. Chính vì vậy, việc ban hành Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị mang ý nghĩa – theo tôi là, rất lớn lao. Đó là đặt lại trọng tâm của ngành y tế - chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, phát hiện bệnh sớm, phòng ngừa để không mắc bệnh là quan trọng. Điều này hoàn toàn phù hợp với những lời dặn dò của Bác Hồ trong bức thư gửi ngành y tế.
Động thái đầu tiên của Chính phủ sau khi Nghị quyết 72 được ban hành và được xã hội hoan nghênh đó là thông tin ngành y tế sẽ miễn phí khám bệnh định kỳ cho mỗi người dân 01 lần mỗi năm. Dù chi phí này với mỗi người dân là không lớn, nhưng đó là phương thức tuyên truyền, vận động để người dân ghi nhận cần phải đi khám bệnh định kỳ hàng năm – dù không có bệnh. Đây là phương thức để vận động người dân đi khám định kỳ - là công tác tuyên truyền y tế mà lâu nay vẫn chưa hoạt động hiệu quả.
Thứ đến là việc phát triển hệ thống trạm y tế cơ sở tại từng địa phương. Tôi đã từng chia sẻ rằng, trạm y tế cơ sở là nơi khám-chữa bệnh, quản lý bệnh nhân đầu tiên, cũng là nơi tuyên truyền vận động người dân chăm sóc sức khỏe cho mình. Những y bác sỹ tại các trạm y tế cơ sở là những tuyên truyền viên giúp người dân hiểu thêm về các phòng ngừa các bệnh theo mùa, phát hiện sớm các bệnh lý mạn tính phát triển theo lứa tuổi, hướng dẫn họ các phòng bệnh, chăm sóc và điều trị bệnh tốt nhất. Các trạm y tế này cũng nên tận dụng nguồn dược liệu cổ truyền tại địa phương để điều trị các bệnh thông thường, ví như cảm cúm, sốt, bong gân…
Như vậy, Nghị quyết 72 sẽ giúp người dân chủ động hơn trong việc phòng bệnh, giảm thiểu các chi phí y tế phát sinh, đồng thời giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh. Việc đưa chăm sóc sức khỏe dự phòng trở lại trung tâm chiến lược cũng mở ra nhiều cơ hội mới, đặc biệt là cho khu vực kinh tế tư nhân.

Cũng giống như Bộ tứ Nghị quyết, Nghị quyết 72 đã, đang và sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp y tế tư nhân phát triển. Không chỉ thừa nhận kinh tế tư nhân là một thành phần cấu thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, các Nghị quyết này còn đề ra những yêu cầu phải tháo gỡ các rào cản, hỗ trợ về vốn, về công nghệ, về quản lý… để kinh tế tư nhân phát triển. Như vậy, có thể hiểu được là, nhà nước đang mở cơ hội để cho các doanh nghiệp tư nhân đầu tư và phát triển.
TPCN là một dòng sản phẩm đặc thù. Nó là sản phẩm giao thoa giữa thuốc và thực phẩm, có tính chất hỗ trợ điều trị và nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Như vậy, là phòng bệnh từ sớm, từ xa, một cách chủ động. Với việc ban hành Nghị quyết 72, các doanh nghiệp thuộc ngành TPCN sẽ có cơ hội phát triển nhanh, mạnh hơn nữa như các doanh nghiệp tư nhân khác.
Nhưng có một điều tôi muốn nhấn mạnh hơn đối với ngành TPCN đó là, song song với việc hỗ trợ doanh nghiệp phát triển là việc đẩy mạnh truyền thông, giáo dục cộng đồng về phòng bệnh từ sớm. Như bạn đã biết, TPCN có vai trò quan trọng trong phòng ngừa bệnh tật, nâng cao sức khỏe thể trạng của mỗi người, ở mỗi lứa tuổi. Việc đẩy mạnh truyền thông về chăm sóc sức khỏe chủ động theo Nghị quyết sẽ tạo dựng nền tảng thông tin để các doanh nghiệp TPCN truyền thống đúng, trúng đích, trúng mục tiêu hướng tới. Và người dân sẽ hiểu rõ hơn vai trò của TPCN và biết mình cần dùng gì để bảo vệ sức khỏe ngay từ ban đầu. Khi sức khỏe được chăm sóc tốt từ sớm, gánh nặng cho hệ thống điều trị cũng sẽ giảm đi đáng kể.

Tôi cho là có. Khi cơ hội mở ra thì đồng nghĩa mỗi doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao năng lực bản thân để đáp ứng nhu cầu cộng đồng. Bạn cứ tưởng tượng như thế này, khi người dân hiểu về vai trò của TPCN với dự phòng và chăm sóc sức khỏe chủ động thì họ sẽ sử dụng nhiều hơn, tìm mua các sản phẩm phù hợp với lứa tuổi và thể trạng của họ nhiều hơn. Và nhu cầu tìm kiếm các sản phẩm mới cũng sẽ nhiều hơn nữa. Vì thế, áp lực đổi mới của các doanh nghiệp cũng sẽ lớn hơn.
Chúng ta đều biết, hệ sinh thái động thực vật ở Việt Nam rất đa dạng, là nguồn cung dồi dào cho ngành dược và ngành TPCN cùng phát triển. Mỗi loại cây cỏ, động vật đều hàm chứa các dưỡng chất tốt, giúp nâng cao sức khỏe, tăng cường thể chất, tăng cường sức đề kháng cho con người. Tận dụng thế nào cho tốt các loại cây cỏ này cũng là một áp lực – áp lực đầu tư cho nghiên cứu, sản xuất. Với các doanh nghiệp tư nhân đầu tư về nuôi trồng dược liệu. Lựa chọn trồng cây gì, nuôi con gì, xây dựng doanh nghiệp vừa hay nhỏ hay siêu nhỏ… đều là áp lực hết, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay. Và điều này cần sự chung tay hỗ trợ từ nhà nước, chính quyền, để vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa giúp cho ngành kinh tế trong nước phát triển.
Và như tôi đã nói ở trên, các doanh nghiệp tư nhân sẽ phải đối mặt với những thách thức sau: Thứ nhất là vốn, thứ hai là công nghệ, thứ ba là đầu tư cho nghiên cứu, thứ tư là đảm bảo nguồn cung nguyên liệu, thứ năm là đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, thứ sáu là đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Để có thể xử lý triệt để những vấn đề này, cần sự bắt tay hợp tác sâu rộng giữa nhà nước và doanh nghiệp. Và sự ra đời của Nghị quyết 72 cũng như “bộ tứ trụ cột” về phát triển kinh tế tư nhân, sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận thị trường, đổi mới sản phẩm, áp dụng công nghệ cao, đồng thời đóng góp vào hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe chủ động, mang lại lợi ích cho cộng đồng.


Một trong những lý do mà Nhà nước coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất trong phát triển kinh tế là bởi, khu vực kinh tế tư nhân giải quyết khoảng 80% nguồn lao động trên cả nước. Đây là một con số rất lớn. Người lao động tạo ra của cải, kinh tế cho cả nước.
Thực tế, doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng thích ứng nhanh với thị trường và những biến động của nền kinh tế. Với bộ máy quản lý nhỏ gọn, không cồng kềnh như các công ty nhà nước hay tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân linh hoạt hơn rất nhiều với sự vận động của thị trường, dễ dàng đổi mới sáng tạo, tiếp cận công nghệ…. Nhưng đây cũng là điểm yếu của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Họ bị hạn chế về vốn và khả năng quản trị doanh nghiệp. Hạn chế về vốn nên họ khó có cơ hội tiếp cận với công nghệ cao hay chuyển đổi số. Vì vậy, họ cần sự hỗ trợ của Nhà nước về vay vốn, thuế suất. Nhà nước có thể hỗ trợ về cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mai hoặc đầu tư cho khoa học công nghệ… nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển và phát triển bền vững. Còn bản thân các doanh nghiệp là tận dụng, vận dụng tốt các lợi thế và sự hỗ trợ này. Bỏ lỡ cơ hội, họ sẽ bỏ lỡ sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

Theo tôi, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng sẽ tương đồng như các quốc gia trên thế giới. Kinh tế tư nhân là một cột trụ vững chắc cho nền kinh tế của các quốc gia. Điều này đã được chứng minh ở những nước phát triển như Mỹ, Nhật hay Hàn Quốc – những quốc gia mà chúng ta thường được nghe thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tất nhiên, mỗi quốc gia có một mô hình phát triển khác nhau. Như nhìn vào Hàn Quốc, ta sẽ thấy các chaebol – các doanh nghiệp siêu lớn, các tập đoàn bao trùm dẫn dắt nền kinh tế. Dù không thể dập khuôn hoàn toàn nhưng khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam sẽ đồng hành với Chính phủ để kiến tạo nên một cộng đồng phát triển, lấy kinh tế tư nhân làm trọng tâm. Điều cần là, làm thế nào tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn nữa.
Còn với các doanh nghiệp TPCN, Nghị quyết 72 đã mở ra “một chương mới cho chăm sóc sức khỏe toàn dân”, “nhấn mạnh vai trò chủ động trong phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe từ sớm”, thì đây là “cơ hội vàng” cho các doanh nghiệp TPCN tham gia định hình quan điểm chăm sóc sức khỏe chủ động trong cộng đồng, đồng thời xây dựng một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe chủ động, bền vững. Sự phối hợp giữa Nhà nước và kinh tế tư nhân không chỉ giúp giảm gánh nặng cho hệ thống y tế, nâng cao sức khỏe cộng đồng, mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tương lai chăm sóc sức khỏe chủ động ở Việt Nam sẽ không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế, mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và cả các doanh nghiệp tư nhân - những “người đồng hành chiến lược” kiến tạo một xã hội khỏe mạnh và phát triển.








Bình luận của bạn