Phát hiện u nguyên bào võng mạc từ một vệt trắng nhỏ trong lòng đen của mắt - Ảnh minh họa.
Mất thị lực vĩnh viễn ở tuổi 30 do thói quen ăn uống nhiều người mắc
Gan nhiễm mỡ ảnh hưởng thế nào tới thị lực?
4 thực phẩm chứa dưỡng chất hỗ trợ bảo vệ thị lực
5 cách bảo vệ thị lực tuổi trung niên
Thông tin từ Bệnh viện Bạch Mai cho biết, Bệnh viện vừa chia sẻ về một trường hợp bệnh nhi được phát hiện mắc u nguyên bào võng mạc từ 5 tháng tuổi và hành trình 4 năm điều trị để giữ lại ánh sáng cho trẻ.
Vệt trắng nhỏ trong mắt
Theo lời kể, khi bệnh nhi mới 5 tháng rưỡi, người mẹ nhận thấy bé phản ứng kém với ánh sáng và đồ vật xung quanh so với những trẻ cùng tuổi. Điều khiến chị lo lắng hơn là mỗi khi ánh sáng chiếu vào, trong lòng đen mắt con xuất hiện một vệt trắng bất thường.
Kết quả thăm khám khiến cả gia đình bàng hoàng, trẻ mắc u nguyên bào võng mạc ở cả hai mắt. Trong đó, mắt phải thuộc nhóm E - giai đoạn rất nặng, gần như không còn khả năng bảo tồn; mắt trái ở nhóm D, vẫn còn cơ hội giữ lại nhãn cầu nếu được điều trị tích cực.
Từ đó, tuổi thơ của bệnh nhi gắn với những lần nhập viện, gây mê, truyền hóa chất, laser và kiểm tra đáy mắt định kỳ. Trẻ đã trải qua 6 đợt hóa chất toàn thân cùng nhiều lần điều trị laser ở cả hai mắt.
Điều ám ảnh nhất với người mẹ không chỉ là chẩn đoán ung thư mà còn là nguy cơ con mất đi ánh sáng. Chị gần như gác lại công việc và cuộc sống riêng để đồng hành cùng con trong hành trình điều trị kéo dài nhiều năm.
Đưa hóa chất trực tiếp đến khối u
Sau thời gian được TS.BS Phạm Thị Minh Châu - Phó Trưởng khoa Mắt Trẻ em, Bệnh viện Mắt Trung ương theo dõi và điều trị, tháng 12/2025, bệnh nhi được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai để phối hợp can thiệp.
Các bác sĩ Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp (Bệnh viện Bạch Mai) đã thực hiện truyền hóa chất nội động mạch mắt trái nhằm kiểm soát khối u, hướng tới bảo tồn nhãn cầu và thị lực.
PGS.TS Vũ Đăng Lưu, Viện trưởng Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, đây là kỹ thuật có độ khó rất cao do hệ thống mạch máu của trẻ nhỏ rất nhỏ, đường tiếp cận động mạch mắt phức tạp và mọi thao tác đều đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối.
Theo PGS Lưu, mục tiêu cao nhất vẫn là cứu sống trẻ. Khi bảo đảm an toàn tính mạng, các bác sĩ mới hướng tới giữ lại nhãn cầu và bảo tồn phần thị lực còn lại. Quá trình điều trị đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa giữa nhãn nhi, ung bướu, nhi khoa và điện quang chẩn đoán - can thiệp.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều có thể áp dụng phương pháp này. Việc chỉ định phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, mức độ lan rộng của khối u và khả năng bảo tồn an toàn. Với những mắt đã ở giai đoạn quá muộn hoặc có nguy cơ khối u lan rộng, cắt bỏ nhãn cầu vẫn là lựa chọn cần thiết nhằm bảo vệ tính mạng người bệnh.
Theo các bác sĩ, truyền hóa chất nội động mạch hiện là một trong những phương pháp tối ưu đối với các trường hợp phù hợp, giúp tăng khả năng bảo tồn nhãn cầu và thị lực. Hiện kỹ thuật này mới được triển khai tại một số ít cơ sở y tế, chủ yếu ở khu vực phía Bắc, trong đó có Bệnh viện Bạch Mai.
Đánh đổi một mắt để giữ lại sự sống


PGS.TS Vũ Đăng Lưu, Viện trưởng Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp Bạch Mai & bác sĩ Trung tâm Nhi Khoa thăm khám cho trẻ trước khi xuất viện - Ảnh: BVCC
Dù đã được điều trị tích cực, mắt phải của bệnh nhi thuộc nhóm E, không còn khả năng bảo tồn an toàn. Tháng 6/2026, trẻ phải cắt bỏ nhãn cầu và lắp mắt giả bên phải.
Đây là quyết định khó khăn với gia đình, nhưng cần thiết để ngăn khối u tiếp tục phát triển và đe dọa tính mạng. Trong khi đó, các bác sĩ tiếp tục kiên trì điều trị, theo dõi và bảo tồn mắt trái.
Đến ngày 29/7/2026, sau hơn 4 năm chiến đấu với bệnh tật, 7 tháng điều trị tích cực trẻ phát triển tinh thần và thể chất phù hợp với lứa tuổi. Mắt trái được bảo tồn và tiếp tục theo dõi định kỳ bằng khám đáy mắt, siêu âm và chụp cộng hưởng từ.
Với người mẹ, việc con còn một mắt để nhìn thấy gia đình và thế giới xung quanh là thành quả vô giá sau hàng nghìn ngày lo âu.
Phát hiện sớm quyết định cơ hội bảo tồn thị lực
Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp, Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Bệnh viện Mắt Trung ương nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật truyền hóa chất nội động mạch trong điều trị u nguyên bào võng mạc từ năm 2018 trong khuôn khổ một đề tài cấp Bộ. Đến nay, nhiều bệnh nhi đã được điều trị theo hướng bảo tồn mắt, trong đó có không ít trường hợp từ các tỉnh, thành phía Nam được chuyển ra Hà Nội.
Theo PGS.TS Vũ Đăng Lưu, giá trị của kỹ thuật không chỉ nằm ở việc đưa thuốc trực tiếp đến khối u mà còn mở thêm cơ hội thay đổi chất lượng cuộc sống của trẻ. Với những trường hợp phù hợp, người bệnh có thể giữ lại nhãn cầu, duy trì hình thể khuôn mặt và bảo tồn một phần thị lực.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh, hiệu quả của điều trị phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh. Khi khối u còn khu trú trong nhãn cầu, khả năng kiểm soát bệnh và bảo tồn mắt sẽ cao hơn. Nếu trẻ đến viện khi mắt đã lồi, đau, đỏ kéo dài hoặc khối u lan ra ngoài nhãn cầu, việc điều trị sẽ phức tạp hơn và nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng cũng tăng lên.
U nguyên bào võng mạc là khối u ác tính nội nhãn thường gặp nhất ở trẻ em và chủ yếu xuất hiện ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi.
Dấu hiệu điển hình nhất là đồng tử trắng. Cha mẹ có thể nhìn thấy đốm hoặc vệt trắng trong lòng đen của mắt trẻ, nhất là khi ở nơi thiếu sáng hoặc chụp ảnh có đèn flash. Trong ảnh, thay vì phản chiếu màu đỏ như mắt bình thường, một bên mắt có thể hiện ánh trắng bất thường.
Dấu hiệu ở mắt cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa sớm khi có một trong những biểu hiện:
- Đồng tử xuất hiện đốm hoặc vệt trắng;
- Một mắt phản chiếu màu trắng khi chụp ảnh;
- Trẻ đột ngột bị lác;
- Trẻ không dõi theo ánh sáng hoặc đồ vật;
- Hai mắt có phản xạ ánh sáng khác nhau;
- Mắt đỏ, đau, sưng hoặc lồi bất thường.
Đồng tử trắng không đồng nghĩa chắc chắn trẻ mắc u nguyên bào võng mạc, nhưng luôn là dấu hiệu cần được kiểm tra sớm để loại trừ bệnh lý nguy hiểm. Phát hiện sớm u nguyên bào võng mạc không chỉ giúp cứu sống trẻ mà còn mở ra cơ hội giữ lại nhãn cầu và ánh sáng cho cả cuộc đời.








Bình luận của bạn